[Hai bờ eo biển] Tại sao Hoa Kỳ hai lần mất Trung Quốc? Từ cấm vận vũ khí đến khủng hoảng Đài Loan
bellala 央廣2 giờ trước
VOA Washington đưa tin: Các nhà lãnh đạo Nhóm Bảy nước (G7) hôm thứ Ba (16/6) đã đưa ra tuyên bố tái khẳng định: "Phản đối mọi nỗ lực đơn phương thay đổi hiện trạng, đặc biệt là các nỗ lực sử dụng vũ lực hoặc cưỡng ép ở Biển Đông, Biển Nam Trung Hoa và khu vực eo biển Đài Loan."
CNA đưa tin ngày 18/6: Tổng thống Lại Thanh Đức hôm nay cho biết cam kết an ninh của Hoa Kỳ đối với Đài Loan không thay đổi, các gói bán vũ khí liên quan vẫn đang được xem xét, Đài Loan sẽ tiếp tục tăng cường khả năng tự vệ và mong muốn các gói mua sắm vũ khí liên quan sẽ được phía Hoa Kỳ xem xét và phê duyệt thuận lợi.
Hai bản tin trên cùng chỉ ra mối liên hệ giữa an ninh Đài Loan với Hoa Kỳ và thế giới văn minh.
Bài viết này nhìn lại lịch sử để làm sáng tỏ một sự thật lịch sử đã bị xã hội chính thống bỏ qua trong thời gian dài: Sau hai cuộc Thế chiến trong thế kỷ trước, việc các nước châu Âu và Mỹ áp đặt lệnh cấm vận vũ khí đối với Trung Quốc xuất phát từ thiện chí cuối cùng lại dẫn đến những hậu quả tồi tệ nhất, viết lại cục diện chính trị của Trung Quốc và Đại Đông Á, đồng thời ảnh hưởng sâu sắc đến mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Theo một nghĩa nào đó, Chiến tranh Thái Bình Dương giữa Mỹ và Nhật Bản trong Thế chiến II, cũng như Chiến tranh Triều Tiên và Chiến tranh Việt Nam sau Thế chiến II, đều có liên quan chặt chẽ đến hai lệnh cấm vận vũ khí này.
I. Lệnh cấm vận vũ khí đối với Trung Quốc sau Thế chiến I đã thay đổi bản đồ chính trị Trung Quốc
Hội nghị Hòa bình Paris sau Thế chiến I năm 1919, gây ra Phong trào Ngũ Tứ do vấn đề Sơn Đông, nhưng rất ít người để ý đến hậu quả sâu sắc đối với Trung Quốc và Đại Đông Á từ quyết định cấm vận vũ khí đối với Trung Quốc vào ngày 5 tháng 5.
Một trong những nguyên tắc cốt lõi trong "Mười bốn điểm" của Tổng thống Hoa Kỳ lúc bấy giờ là Woodrow Wilson là quyền tự quyết dân tộc và bình đẳng chủ quyền, đồng thời ngăn chặn chiến tranh trong tương lai thông qua việc thành lập Hội Quốc Liên. Dưới triết lý này, các nước phương Tây cho rằng cuộc nội chiến giữa các quân phiệt ở Trung Quốc là công việc nội bộ của Trung Quốc, do đó, vào khoảng những năm 1920, Mỹ, Anh và các nước khác bắt đầu hạn chế nghiêm ngặt việc xuất khẩu vũ khí cho chính phủ Trung Quốc.
Tuy nhiên, chính sách thiện chí này đã khiến chính phủ Bắc Dương, đại diện cho Trung Quốc, không thể mua vũ khí hiện đại từ châu Âu và Mỹ. Trong khi đó, Liên Xô và Nhật Bản tiếp tục bán vũ khí cho Trung Quốc do vị trí địa lý. Đặc biệt là Liên Xô, sau năm 1923 bắt đầu viện trợ có hệ thống cho các lực lượng cách mạng ở miền Nam. Thông qua chính sách "Liên Nga Dung Cộng" của Tôn Trung Sơn, một lượng lớn cố vấn quân sự, huấn luyện viên, tài chính và vũ khí của Liên Xô đã vào Quảng Châu bằng đường biển, thành lập Trường Quân sự Hoàng Phố, ảnh hưởng của Đảng Cộng sản theo đó mở rộng, trở thành một tác nhân quan trọng của Quốc tế Cộng sản tại Trung Quốc. Cuối cùng, chính phủ Bắc Dương dần tụt hậu về tài chính, quân sự và khả năng huy động tổ chức, trong khi lực lượng cách mạng miền Nam nhanh chóng lớn mạnh với sự hỗ trợ của Liên Xô, dẫn đến sự thành công của cuộc Bắc phạt của Quốc dân Đảng và sự bùng nổ của Đảng Cộng sản ở Trung Quốc.
Sự thất bại của chính phủ Bắc Dương tất nhiên có những nguyên nhân như nội bộ tranh giành phe phái, cạn kiệt tài chính và thiếu tính hợp pháp chính trị, nhưng lệnh cấm vận vũ khí đã khiến chính phủ mất đi kênh quan trọng để tiếp nhận vũ khí hiện đại từ châu Âu và Mỹ, trong khi Liên Xô có thể tiếp tục hỗ trợ các thế lực cách mạng miền Nam, từ đó làm gia tăng sự mất cân bằng lực lượng. Cuộc nội chiến hạn chế của các quân phiệt Bắc Dương ở Trung Quốc, do lệnh cấm vận vũ khí gây mất cân bằng lực lượng, đã leo thang thành một cuộc chiến ba chiều:
Thứ nhất, chủ thể nội chiến thay đổi: từ cuộc chiến mà Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản cùng nhau chống lại chính phủ Bắc Dương, trở thành nội chiến giữa Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản;
Thứ hai, cạnh tranh địa chính trị ở Đông Bắc Á gia tăng: việc Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập chính quyền Xô Viết về bản chất là một tác nhân chính trị của Quốc tế Cộng sản và Liên Xô tại Trung Quốc, điều này kích thích sự trỗi dậy của chủ nghĩa quân phiệt Nhật Bản, từ đó Liên Xô, Nhật Bản và Trung Quốc bắt đầu cạnh tranh địa chính trị gay gắt;
Thứ ba, Nhật Bản bị kích thích bởi sự bành trướng của Liên Xô ở Trung Quốc, phát động cuộc xâm lược toàn diện Trung Quốc, sau đó dẫn đến sự can thiệp của Hoa Kỳ và cuối cùng là bùng nổ Chiến tranh Thái Bình Dương.
Nhìn lại lệnh cấm vận vũ khí đối với Trung Quốc được thiết lập tại Hội nghị Hòa bình Paris ngày 5 tháng 5 năm 1919 và các phản ứng dây chuyền tiếp theo, chúng ta nên suy ngẫm: Tại sao ý định ban đầu tốt đẹp của châu Âu và Mỹ tôn trọng chủ quyền quốc gia cuối cùng lại đơm hoa kết trái đắng cay? Nó không chỉ mang lại đau khổ cho người dân Trung Quốc mà còn gây ra những hậu quả thảm khốc cho Đại Đông Á và Hoa Kỳ.
II. Lệnh cấm vận vũ khí đối với Trung Quốc sau Thế chiến II đã khiến chính phủ Trung Hoa Dân Quốc phải rút lui về Đài Loan
Sau khi Nhật Bản thất bại vào năm 1945, Hoa Kỳ hy vọng Trung Quốc sẽ đạt được "chính phủ liên hiệp" thông qua đàm phán chính trị để tránh một cuộc nội chiến toàn diện. Vào tháng 10 năm 1945, Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản đã ký "Hiệp định Song Thập", xác nhận các nguyên tắc xây dựng đất nước hòa bình, tham vấn chính trị và quốc hữu hóa quân đội. Tuy nhiên, không lâu sau khi hiệp định được ký kết, Đảng Cộng sản, dựa vào lợi thế chiến lược do Liên Xô chiếm đóng vùng Đông Bắc, đã tiếp nhận quy mô lớn vũ khí và cơ sở công nghiệp còn sót lại của Nhật Bản, nhanh chóng tăng cường quân đội và chuẩn bị chiến tranh.
Năm 1946, Tổng thống Hoa Kỳ Truman đã cử George Marshall đến Trung Quốc để hòa giải và vào mùa hè cùng năm đã thúc đẩy lệnh cấm vận vũ khí đối với chính phủ Quốc dân, tạm dừng một số hoạt động xuất khẩu vũ khí và viện trợ quân sự, hy vọng ép buộc cả hai bên Quốc-Cộng ngừng bắn và đàm phán. Do Hoa Kỳ áp đặt lệnh cấm vận vũ khí đối với chính phủ Quốc dân, cán cân lực lượng giữa Quốc dân Đảng và Đảng Cộng sản nhanh chóng đảo ngược, chính phủ Quốc dân không thể xoay chuyển tình thế. Sau chiến dịch vượt sông năm 1949, chính phủ Quốc dân đã mất lục địa, sự cai trị của Trung Hoa Dân Quốc trên đại lục thất bại, Hoa Kỳ mất Trung Quốc.
"Tại sao Hoa Kỳ mất Trung Quốc" đã từng là chủ đề nóng bỏng trong xã hội Mỹ sau Thế chiến II. Một trong những nguyên nhân trực tiếp là chính phủ Quốc dân trong giai đoạn quan trọng đối đầu với các tác nhân Trung Quốc do Liên Xô hậu thuẫn, Hoa Kỳ đã áp đặt lệnh cấm vận vũ khí đối với chính phủ Quốc dân (tất nhiên, những sai lầm lớn trong quyết sách của chính phủ Quốc dân, sự sụp đổ kinh tế và các yếu tố khác cũng đóng vai trò chung). Quyết định này không chỉ định hình lại vận mệnh của Trung Quốc và Đông Á mà còn gây ra những cú sốc lớn cho Hoa Kỳ và phương Tây.
Sau khi Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập chính quyền, Hoa Kỳ buộc phải đầu tư nguồn lực chiến lược khổng lồ vào Đông Á trong thời gian dài. Chiến tranh Triều Tiên đã gây ra khoảng 36.000 người Mỹ thiệt mạng và hơn 100.000 người bị thương; Chiến tranh Việt Nam đã khiến 58.220 người Mỹ thiệt mạng và hơn 150.000 người bị thương. Hai cuộc chiến này đã tiêu tốn nguồn tài chính khổng lồ và ảnh hưởng sâu sắc đến chính trị nội bộ và bố cục chiến lược quốc tế của Hoa Kỳ.
III. Lệnh cấm vận vũ khí lần thứ ba có thể đẩy Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) vào khủng hoảng nghiêm trọng
Trong lịch sử, hai lệnh cấm vận vũ khí của châu Âu và Mỹ đối với Trung Quốc đã khiến Trung Hoa Dân Quốc hai lần gặp phải những tổn thất lớn.
Hiện tại, nếu Hoa Kỳ vì tư duy lý tưởng chủ nghĩa tương tự hoặc các yếu tố quốc tế mà tiếp tục trì hoãn, đặt điều kiện hoặc hạn chế thực chất việc bán vũ khí cho Đài Loan, Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể đánh giá sai quyết tâm bảo vệ Đài Loan của Hoa Kỳ. Giống như Mao Trạch Đông đã phát động tấn công vào năm 1949 sau khi biết rằng phía Mỹ sẽ không can thiệp vào chiến dịch vượt sông, cuối cùng dẫn đến sự chia cắt hai bờ eo biển trở thành hiện thực.
Nếu xung đột bùng nổ và leo thang thành một cuộc chiến tranh kéo dài tương tự như chiến tranh Nga-Ukraine, Biển Nam Trung Hoa sẽ trở thành chiến trường chính. Tác động của nó sẽ vượt xa Chiến tranh Nga-Ukraine và Chiến tranh Mỹ-Iran: Là tuyến đường thương mại biển huyết mạch của Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, các nền kinh tế lân cận như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore sẽ bị tổn thương nặng nề; chuỗi cung ứng chip và công nghệ cao toàn cầu của Đài Loan sẽ bị gián đoạn, và thương mại bình thường giữa Hoa Kỳ và khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương sẽ không thể duy trì. Một khi chiến tranh eo biển Đài Loan bùng nổ, tác động đến nền kinh tế và chuỗi công nghiệp toàn cầu sẽ khó có thể lường trước.
Nghiêm trọng hơn, Đảng Cộng sản Trung Quốc có thể không từ thủ đoạn nào, kể cả đe dọa hạt nhân, để cố gắng chiếm Đài Loan. Một khi thành công, Hoa Kỳ sẽ mất đi Đài Loan như một điểm tựa chiến lược, Biển Nam Trung Hoa sẽ bị Đảng Cộng sản Trung Quốc kiểm soát thực tế, và các quốc gia trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương có thể nhanh chóng khuất phục trước bá quyền của Đảng Cộng sản Trung Quốc.
Hoa Kỳ tuyệt đối không được lặp lại sai lầm lịch sử. Chỉ bằng cách nâng cấp mạnh mẽ trang bị vũ khí cho Đài Loan và kiên quyết ngăn chặn tham vọng thống nhất bằng vũ lực của Đảng Cộng sản Trung Quốc, chúng ta mới có thể thực sự duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương.
Kết luận
Lịch sử không bao giờ lặp lại một cách đơn giản, nhưng nó thường đưa ra cảnh báo cho hậu thế theo những cách tương tự. Hai lệnh cấm vận vũ khí đều bắt nguồn từ mong muốn hòa bình thiện chí, nhưng cuối cùng đã thay đổi sâu sắc vận mệnh của Trung Quốc và Đông Á. Vấn đề Đài Loan ngày nay không chỉ liên quan đến số phận của Đài Loan mà còn là vấn đề then chốt đối với trật tự Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và liệu thế giới tự do có thể duy trì sự ổn định chiến lược hay không. Làm thế nào để tránh sai lầm lịch sử lần thứ ba sẽ thử thách trí tuệ chính trị của Hoa Kỳ và thế giới văn minh. (Biên tập: Hứa Gia Uyển)
Tác giả: Ngô Tộ Lai, Học giả độc lập, nhà bình luận.
Liên kết nguồn: https://www.rti.org.tw/news?uid=3&pid=216192
Bạn cảm thấy thế nào về bài viết này?
0 người đã bày tỏ cảm xúc